Thứ Hai, 1 tháng 4, 2019

Nghiệp hát văn

Trong ngành hát văn, nghệ nhân Lê Bá Cao là một trong những người luôn nghiêm túc nhìn nhận và lên tiếng về những bất cập của giới nghề. Thẳng thắn, bộc trực mà thâm thúy, không ít lần cụ Cao đã giúp lớp nghệ nhân thế hệ sau nghiệm ra những giá trị của người xưa. Nghe cụ kể về chuyện nghề, chuyện đời đầy khảng khái, ít ai biết rằng cuộc hành trình với nghiệp hát văn của người nghệ nhân sinh năm 1932 này cũng lắm nỗi gian truân.
Nghệ nhân Lê Bá Cao (Ảnh: báo Nhân dân)
Hát văn, đi cúng vốn là nghiệp của gia đình, bởi thế Lê Bá Cao đã được bố cho đi phụ giúp từ năm bảy tuổi, cũng là khi Hà Nội loạn lạc. "Có hôm đi cúng về khuya quá giờ thiết quân luật, thấy ô-tô của Tây đỗ lại, chĩa súng vào thì ông cụ tôi vội giơ đàn mà nói "xin xin bồ đà (đi lễ)" là cho đi. Ấy thế mà khi Tây nó đánh về đây, bố vẫn bị bắt làm tù binh mất một năm. Năm 1946 - 1947, khi ông được thả về cũng là lúc tôi bắt đầu học hát văn cùng bố và các thầy", cụ Cao tâm sự.
Thời ấy, trò phải tự mình hình dung lối hát mà ứng tác vì thầy chỉ dạy các chiêu nghề cơ bản, song bù lại rất nghiêm khắc. "Tôi mà hát sai là bố giật luôn phách, phạng vào đầu gối. Nước mắt chảy ròng ròng mà tôi vẫn phải gảy đàn, đánh nhịp. Ði hát cho người ta lên đồng từ chập tối đến 1 - 2 giờ đêm phải ngồi đánh nhịp trường canh cho thật vững, đánh xô đi là chết với ông", cụ Cao nhớ lại.
Cụ Cao có một xoang giọng đặc biệt mà dân gian gọi là thổ đồng - trầm mà pha mầu kim loại (đồng) cùng với hơi ngân hạt lựu nên được nhiều ông bà đồng ưa chuộng. Hai cha con người nghệ nhân vẫn tiếp tục lăn lộn cùng nghề khắp nội ngoại thành Hà Nội đến năm 1953 đành phải ngừng lại.
Gặp nhiều thăng trầm trong cuộc sống, nhưng sự say mê nghiệp cầm ca dường như đã ăn vào máu, khiến cụ Cao không lúc nào nguôi ngoai nỗi nhớ. Hễ có dịp, hay có ai nhờ vả, gợi nhắc, là cụ lại cố gắng gạt chuyện mưu sinh, những phiền toái bên ngoài để thả hồn cùng điệu hát.
Lăn lộn với nghề thêm mấy chục năm khắp các đền phủ, trông nom năm ngôi đền khu vực phía nam Hà Nội, khi về già, ông lại trở về coi quản ngôi chùa làng mình. "Tôi nghỉ hát văn lâu rồi, giờ cầm đàn tay đã cứng, đánh sai cả nốt đây này! Hơi của mình không cao như xưa được nữa, giờ chỉ "là là mặt đất" thôi!", ông cười hóm hỉnh.
Giờ, ngoài việc thỉnh thoảng có người mộ tài mời đi hát, ông lại hàn huyên cùng những học trò hát văn của mình về biến đổi khôn lường của hát văn thời nay. Với con mắt đã trải nghề mấy chục năm, cụ Cao kể ngày xưa lên đồng rất chân phương, ngay cả từ trang phục. Năm áo - năm mầu có thêu thì thêu tản vân, lên các giá quan thì thay khăn xếp, lên giá trầu khăn vuông thêu phượng có rua và thay đổi mạng, xà tích, dao quai... cho phù hợp. Hình thêu lưỡng long chầu nguyệt, rồng ngũ chảo, tứ chảo (4 - 5 móng) hầu như không có, bởi đó là biểu tượng vua chúa. "Ấy thế mà giờ thì giá quan lớn nào cũng thêu đầy rồng chầu mặt nguyệt. Ðúng là cuộc sống tân tiến nên các quan cũng phải tân tiến theo. Cái này gọi là quan của thị trường mà!", cụ cười với vẻ thâm thúy.
Với cụ, không phê phán thì tín ngưỡng hầu đồng sẽ ngày càng biến dạng. Chọn cách hài hước hóa câu chuyện tâm linh, cụ Cao kể, "Có bà đồng đòi lên năm quan ngũ hổ (vốn chỉ được mời khi thầy pháp sư có đồng trượng cúng trừ tà khí). Lên năm ông rồi, lại đòi lên thêm một ông hổ nữa. Cung văn mới trêu "5 ông tôi đã mời rồi, còn ông hổ cái tôi mời ông lên".
Có tiếng trong nghề, nên nhiều người muốn theo nghiệp cung văn đã tìm đến cụ. Nhưng chỉ những ai thật sự nghiêm túc, và trân trọng những giá trị truyền thống thì cụ Cao mới nhận. Trong khi, sự xô bồ của sinh hoạt tâm linh chỗ này, chỗ khác ít nhiều cũng ảnh hưởng đến giới cung văn. Nhiều người đi học để làm tiền, chứ không phải lấy cái nghề. "Thậm chí, các anh còn kêu "bắt chúng con học thế này thì 4, 5 năm cũng chả kiếm được tiền", cụ Cao ngán ngẩm.

Tín ngưỡng Tứ phủ với những đổi thay chắc sẽ còn trải dài trong những câu chuyện của cụ Cao. Hiện cụ đang giúp sức cho Câu lạc bộ bảo tồn nghệ thuật Hát Văn truyền lại vốn cổ cho thế hệ sau. Theo cụ, trước tiên là truyền lại cho những người đã có nghề các làn điệu và kỹ thuật hát văn chân chính theo lối cổ. "Lớp này phải dạy ngay chứ để họ hỏng thì đời sau này cũng hỏng hết, vì chúng tôi già rồi, toàn những người 80 - 90 tuổi, mấy năm nữa đi hết thì lấy ai truyền dạy cho", cụ Cao chia sẻ./.

Mê tín và chuyện kinh doanh tâm linh

Chưa bao giờ việc "phong thần" lại dễ dàng như hiện nay. Một con cá, rắn, cây cảnh, tảng đá,... đều có thể được thờ cúng, chiêm bái như những bậc thánh thần. Phải chăng chúng ta đang bị khủng hoảng niềm tin hay đó chỉ là chiêu trò của những người thích "kinh doanh tâm linh"?
Con cá sống dở chết dở do bị chích điện đến dị tật bỗng chốc được bái vọng, được thờ cúng như thần. Người ta mang đồ tế lễ, rải tiền bạc,... thờ con cá tội nghiệp để cầu mong danh lợi tiền tài. Khốn nỗi, ngay đến cái thân mình, con cá còn không thể lo nổi thì nói gì đến chuyện cứu nhân độ thế. Thế nên, việc chú "cá thần" được mang om dưa như cách để kết thúc một huyền thoại thêu dệt.
Gần đây nhất, hai con rắn xuất hiện trên một nấm mộ vô chủ cũng được hàng nghìn người mang lễ phẩm đến cúng bái lạy tạ. Thế mới biết, việc lựa chọn vị trí xuất hiện có ý nghĩa quan trọng. Nếu đôi rắn này xuất hiện không phải trên ngôi mộ này, rất có thể, nó đã phải trẫm mình trong một bình rượu nào đó.
Không chỉ vậy, một phiến đá, một gốc cây, một đám mối,... cũng có thể trở thành "thần thánh" trong sự thêu dệt của nhiều người.
Thực ra, "trào lưu rắn thần", "cá thần" đã có từ nhiều năm trước. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, sự "tiếp sức" của mạng xã hội khiến cho trào lưu này lại được bùng phát và gây sự chú ý cho cộng đồng.
Vàng mã được bày bán ở khu vực gần các chùa. Ảnh: Huy Thanh/NLĐ
Ngoài việc "phong thần" cho những con vật tội nghiệp, rất nhiều người còn kéo đến các đình, miếu, chùa chiền nổi tiếng để cầu danh lợi tiền tài. Đi lễ chùa đầu năm là nét đẹp văn hóa của người Việt. Tuy nhiên, việc chen chúc nhau ở đền Bà Chúa Kho, tranh cướp "ấn" ở Đền Trần với mong muốn tài lộc, vinh hiển lại là một hành động "phản văn hóa".
Dường như càng ngày càng có nhiều người tin vào sức mạnh của các thế lực siêu nhiên. Càng có nhiều người tin thì càng xuất hiện nhiều những rắn thần, cá thân hay... tảng đá thần ở khắp nơi.
Nhiều người cho đó là sự "khủng hoảng niềm tin". Tuy nhiên, nó chưa hẳn đã phải là khủng hoảng niềm tin mà xuất phát từ sự "mê tín", sự cả tin của nhiều người.
Mê tín ở đây được hiểu là việc quá tin tưởng vào một điều gì đó mà không cần biết đúng sai, phải trái. Thấy ai đó bảo có "rắn thần" ngay lập tức người ta tin đó là sự thật. Sự tiếp sức của mạng xã hội khiến cho bệnh mê tín càng trở nên nghiêm trọng. Chỉ cần ai đó đăng một câu chuyện lên mạng xã hội facebook mang tính tâm linh, thần kỳ, ngay lập tức có hàng ngàn lượt like, chia sẻ, bình luận,...
Trong số ấy, không ít người vì tò mò, vì tin tưởng mà sắm sanh lễ vật đến tận nơi để "bắt tận tay day tận mặt". Cũng chính những người tò mò ấy đã đẩy câu chuyện đi xa thêm. Nhiều người đến vô tình tạo nên niềm tin cho nhiều người khác.
Cứ như thế, từ một thông tin vu vơ, người ta thêu dệt, thêm thắt để thành một câu chuyện thần kỳ. Cũng cứ như thế, một con cá chép bị chích điện dở sống dở chết, một cặp rắn chọn ngôi mộ vô danh làm nơi ở trở thành... thần rắn, thần cá.
Sự cả tin và mê tín ấy đang được tận dụng một cách triệt để. Người ta lấy chuyện tâm linh, thánh thần để câu view, câu like. Nếu lướt qua trang cá nhân của các bà mẹ bỉm sữa bán hàng online, sẽ thấy có rất nhiều người biết "xem chỉ tay", xem tướng, nhiều người kể chuyện mình "gặp ma" hay những câu chuyện tương tự như vậy.
Nhiều ngôi đền, ngôi miếu, chùa chiền cũng đang trở thành nơi cung cấp "dịch vụ tâm linh". Dù chẳng phải đạo giáo nhưng nhiều ngôi chùa sẵn sàng tổ chức "dâng sao giải hạn" cho nhiều người. Ngôi chùa ở làng tôi là một ví dụ. Đầu năm, nhiều người mang tiền đến "đóng" để nhà sư làm lễ dâng sao giải hạn, đọc một loạt những người "đóng tiền" ấy để cầu mong họ "tai qua nạn khỏi" trong năm mới.
Cũng chính sự mệ tin ấy khiến cho chúng ta bỏ ra hàng nghìn tỉ đồng làm vàng mã để "đốt" hàng năm. Làm vãng mã trở thành một nghề "hái ra tiền" trong vài năm trở lại đây.
Việc "buôn thần bán thánh" đã trở thành "nghề" của không ít người. Chính vì vậy, rắn thần, cá thần hay những câu chuyện khác cũng chỉ giống như những chiêu trò nhằm gây sự chú ý để kéo người ta đến với những "dịch vụ tâm linh" mà thôi. Chừng nào những hoạt động "kinh doanh tâm linh" vẫn còn tồn tại thì những câu chuyện thêu dệt ấy vẫn còn đất sống.
Đương nhiên, những người đi vái lạy "thần rắn", "thần cá" cũng mang theo những lời khấn nguyện cho tiền tài, sự thăng tiến, mong muốn vinh thân phì gia. Họ bỏ tiền "đút lót" thánh thần để được mãn nguyện. Sẽ không quá nếu cho rằng việc lễ bái ấy thực chất chỉ là cuộc "mua bán". Người bỏ tiền ra để cầu cho được... nhiều tiền hơn. Việc làm ấy vô tình làm giàu cho những người cung cấp các "dịch vụ tâm linh". Như vậy, cả kẻ "bị lừa" và kẻ "đi lừa" đều cảm thấy thỏa mãn.
Chắc hẳn sẽ có nhiều người cảm thấy xấu hổ khi lỡ cúi đầu trước con cá chép sống dở chết dở đã bị om dưa. Bớt đi sự cuồng tín, tự tin vào chính bản thân mình, chúng ta sẽ không trở thành nạn nhân của những trò mê tín. Bởi trên thực tế, không có bất kỳ ai có thể đem đến hạnh phúc, may mắn và an nhiên cho chúng ta ngoài sự nỗ lực của chính bản thân mình.
Quốc Khánh

Bí ẩn về hiện tượng hồi quang phản chiếu của con người trước khi chết

Hồi quang phản chiếu được biết đến như hiện tượng người ốm nặng đột ngột hồi tỉnh, khỏe lại trước khi qua đời.

Hồi quang phản chiếu là hiện tượng một người đang bị bệnh nặng, cơ thể suy yếu, đột nhiên trở nên tỉnh táo, thân thể khỏe mạnh, hoặc nói cười sảng khoái, muốn ăn uống.
Thông thường người bệnh rơi vào trường hợp này thì khoảng hai tiếng đồng hồ sau sẽ tử vong. Hiện tượng này được ví với hình ảnh ngọn đèn trước khi tắt, ánh lửa tự nhiên rực sáng.
Hiện tượng người bệnh bỗng nhiên khỏe mạnh trở lại rồi chết được ví với hình ảnh ngọn nến bùng sáng trước khi lụi tàn.
Các giả thiết về hồi quang phản chiếu
Để giải thích cho hiện tượng kỳ lạ này, có giả thiết cho rằng khi một người chuẩn bị qua đời là bước sang thế giới khác, linh hồn của người đó sẽ rút dần khỏi thể xác, từ chân, bụng, tay, cuối cùng là trái tim và trí não. Khi trí não nhẹ nhàng, an yên, không còn bị ảnh hưởng của vật chất, người đó có thể trở nên tỉnh táo và mạnh mẽ đặc biệt.
Có giả thiết lại giải thích về mặt tình cảm, nói rằng thời điểm cận kề cái chết là lúc con người ta khao khát sự sống nhất và muốn tạo những kỷ niệm vui vẻ cuối cùng với người thân vì vậy đã xảy ra “hồi quang phản chiếu”.
Một giả thiết cho rằng khi chuẩn bị bước sang thế giới khác, linh hồn của một người sẽ rút dần khỏi thể xác.
Hồi quang phản chiếu có thật hay không?
Khoa học cũng ghi nhận hiện tượng “hồi quang phản chiếu”, dù thật sự vẫn còn rất mơ hồ - về cả cơ sở lẫn khả năng chứng minh, lý giải. Kết quả nghiên cứu của một nhóm khoa học cho thấy trong số 227 bệnh nhân sa sút trí tuệ được theo dõi, khoảng 10% cho thấy có sự sáng suốt hơn hẳn ở giai đoạn cuối đời.
Từ việc đánh giá tài liệu của mình, nhà nghiên cứu đã báo cáo rằng khoảng 84% những người trải nghiệm sự sáng suốt ở giai đoạn cuối sẽ đi đến cái chết nhanh hơn trong vòng một tuần, và 42% số người còn lại qua đời vào chính ngày xảy ra hiện tượng. Vậy làm thế nào một bộ não bị phá hủy bởi bệnh tật trong nhiều năm lại trở nên sáng suốt lúc cận kề cái chết?
Nhà nghiên cứu đưa ra ví dụ về một phụ nữ 91 tuổi bị bệnh Alzheimer. Trong suốt 15 năm, người phụ nữ này đã rơi vào tình trạng vô thức và không nhận ra con gái hay bất cứ ai. Vào một buổi tối, bà bắt đầu trò chuyện rất thân tình với con gái. Bà nói về nỗi sợ chết, những khó khăn mà bà đã trải qua với gia đình. Và vài giờ sau đó, bà đã qua đời.  
Về mặt tình cảm, người ta cho rằng đây là một món quà cho người bệnh có một cơ hội cuối cùng để được ở bên người thân yêu và nói lời tạm biệt cuối cùng với họ.
Từ trường hợp trên, đã xuất hiện nhiều giả thiết về cả mặt tâm linh và khoa học xoay quanh hiện tượng “hồi quang phản chiếu”, nhưng vẫn không đủ thông tin để xác định một cơ chế dứt khoát.
Đến nay, câu trả lời cho hiện tượng “hồi quang phản chiếu” vẫn còn bỏ ngỏ. Một số triết gia và nhà thần học đã đưa ra giả thuyết rằng ý thức của con người nằm ngoài phạm vi hoạt động của bộ não. Ý tưởng này đã được đề xuất như một lời giải thích cho những trải nghiệm cận tử.
Các nhà khoa học tuy phản đối giả thuyết trên nhưng cho đến nay vẫn chưa thật sự giải mã được bí ẩn của những hiện tượng bất thường này.

BÀI ĐĂNG NỔI BẬT

Để bát đũa dở, rác thức ăn qua đêm cẩn thận chiêu vong

I/ THÓI QUEN ĐỂ BÁT ĐŨA QUA ĐÊM ………………………………………………............ Nhiều gia đình có thói quen để BÁT ĐŨA DỞ của bữa tối - đến sáng hôm...

BÀI ĐĂNG PHỔ BIẾN NHẤT