Thứ Ba, 30 tháng 4, 2019

Một số khái niệm trong Tứ phủ

Trong tín ngưỡng Tứ phủ chúng ta thường nghe các thuật ngữ: Lên đồng, Hầu đồng, đồng Thầy, Thanh Đồng, đồng tân, đồng cựu….

Chúng ta tìm hiểu từ khái niệm cơ bản nhất là chữ Đồng nhé.



ĐỒNG: Trong Hán nôm chữ ĐỒNG có nghĩa: Nô tì, nô bộc = người phụng sự, người làm việc, hầu cận cho một ai đó. Vậy Đồng phụng sự cho ai ? đó chính là Thánh Mẫu và các vị Thánh khác trong Công đồng tứ phủ. Nam giới gọi là cậu đồng, ông đồng, nữ giới gọi là cô đồng, bà đồng.

LÊN ĐỒNG, HẦU ĐỒNG: Là việc phụng sự các vị Thánh trong tứ phủ, để các vị đó ốp vào làm việc.

ĐỒNG CỐT: Cốt là xác, đồng là phụng sự. Đồng cốt nghĩa là khi hầu thánh người hầu đồng chỉ là cái xác do nhà Thánh điều khiển.

ĐỒNG ÂM: Là những Thanh đồng được lựa chọn trực tiếp làm theo sự chỉ dạy của bề trên.

TÂN ĐỒNG: Là những người phụng sự phật thánh trong nghi lễ Hầu đồng, Tân đồng là người mới bước vào lĩnh vực này. Sau thời gian 3 năm theo Thầy, người đệ tử ( Tân Đồng ) mới được coi là một người lính của Thánh đạo ( 3 năm thành lính ).

ĐỒNG THÁNH: Sau thời gian 6 năm kế tiếp người đó mới được coi là một đồng Thánh ( bóng hình của một vị Thánh ). ( 9 năm thành đồng ).

THANH ĐỒNG: sau khi tròn 12 năm tu tâm sửa tính, ăn ở Thánh thiện làm việc phúc đức thì người đó mới được coi là một Thanh Đồng, ( là người Thanh cao Thánh thiện - đồng dạng bóng hình của các vị Thánh được chăm họ tôn thờ ).

ĐỒNG CỰU: Là những người phụng sự phật thánh trong nghi lễ Hầu đồng, nhưng Đồng cựu làm việc một thời gian lâu và có kinh nghiệm.

ĐỒNG THẦY: Là những người phụng sự phật thánh trong nghi lễ Hầu đồng, nhưng Đồng thầy là bậc thầy so với những người khác, có trình độ và quyền hạn cao hơn những Đồng thông thường. Đồng thầy là người có vị trí quan trọng nhất trong hành lễ Tứ phủ, với vai trò quan trọng như vậy nên đồng thầy bắt buộc phải là chủ của một Điện thờ tứ phủ. Đồng thầy là người được bề trên giao nhiệm vụ soi căn nối quả, vậy nên đồng bói đồng pháp không được giao nhiệm vụ soi căn nối quả thì không được là đồng thầy.

THỦ NHANG: Thủ nhang hay còn gọi là Thủ nhang đồng đền là người đứng đầu và có quyền quản lý một Đền hay Phủ, Điện Thờ. Thủ Nhang có thể là chủ sở hữu nơi thờ tự có thể không, Thủ nhang có thể là Đồng thầy có thể không.


Tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần

Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần là tín ngưỡng dân gian Việt nam, được hình thành từ quá trình thánh hóa, thần hóa một nhân vật có thật trong lịch sử, anh hùng dân tộc Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, ông là vị thánh phù hộ cho sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, hộ quốc an dân, diệt trừ tà ma và chữa bệnh

Đức Thánh Trần tên thật là Trần Quốc Tuấn, mất ngày 20/8, ông là con trai thứ của Trần Liễu, anh trai vua Trần Thái Tông ( Trần Cảnh), về gốc tích ra đời của ông dân gian truyền lại, ông chính là Thanh tiên đồng từ trên Thiên Đình phụng lệnh Ngọc Hoàng đầu thai xuống hạ giới mang theo phi thân kiếm, cờ ấn, tam bảo của Lão Tử, Ngũ Tài của Thái Công .Như vậy xét về nguồn gốc nhà Trần cũng xuất phát từ dòng tu tiên Đạo giáo, gốc của pháp Tứ Phủ (Đạo Mẫu) chính là Tam Phủ (Đạo Tiên). Nhà Trần không thuộc Tứ Phủ có lối thờ phụng riêng và phép tắc khác bên Tứ Phủ - nhưng Thần Chủ của Tứ Phủ và của bên Nhà Trần đều thuộc dòng Thiên Tiên - tuân chỉ Ngọc Hoàng Thượng Đế mà giáng phàm để cứu dân độ thế, khuyến Thiện phạt Ác - tuy xuất xứ khác nhau nhưng nhiệm vụ thì là một, vì vậy hiện nay có sự phối thờ Trần triều và tứ phủ.



Tương truyền khi Đức Thánh Trần mất, để tránh sự trả thù của quân Nguyên ông truyền lệnh lập mộ giả ở vườn An Lạc, Bảo Lộc ( Hiện nay tại Bảo Lộc có 1 lăng mộ ghi tên Hưng Đạo Đại Vương nhưng thực chất đó là mộ của 1 viên bộ tướng).

Khi hóa Đức thánh đã về thiên đình nhận chỉ của Ngọc Hoàng phong là Cửu Thiên Vũ Đế, với sứ mệnh diệt trừ yêu ma ở cả 3 cõi thiên đình, trần gian, âm phủ.Theo như vị hiệu thì Đức Thánh ngài Cửu Thiên Vũ Đế - Là Thiên Tinh nên tả Nam Tào, hữu Bắc Đẩu phù cho Thiên Tinh. Dân gian đã gắn hình ảnh hai vị tướng tâm phúc nhất của Đức Thánh Trần là ông Yết Kiêu và ông Dã Tượng vào vị trí phò tà của Đức Thánh Trần , khi sang thế giới bên kia họ sẽ trở thành quan Nam Tào, Bắc Đẩu tiếp tục giúp việc Đức Thánh Trần trong việc cứu dân giúp đời.

Trong hàng thánh nhà Trần có thầy dậy Văn và thầy dậy Võ thể hiện Triều đình nhà Trần trọng tài nên có phối Tự chứ từ thời đức Khổng Tử truyền Đạo Nho cho tới triều Trần thì biết bao nhiêu triều đại Vương Hầu Công Tử đều phải có Thầy dạy mới nên bậc hiền tài chứ không chỉ có triều Trần

Nét đặc sắc khi hầu nhà Trần là phép lên đai thượng, xiên lình, lấy dấu mặn, Đức ông khi thượng đồng xiên lình hai tai và hai lình quân, Tứ vị vương tử ngự đồng lên đai thượng, xiên lình, Vương cô đệ nhị về đồng mang theo cờ kiếm,lấy dấu mặn, Đức ông về chứng. Dấu mặn dùng để chữa bệnh, trị tà, chữa điên, trấn yểm....thường là trấn yểm cho Đền to phủ lớn, trấn những vùng long mạch lớn, nếu dùng máu Thánh để trấn thì khó mà phá được. Phép lên đai thượng, xiên lình, lấy dấu mặn thường chỉ những người căn cao nặng mới hầu được, vì khi lên đai thượng hai người đứng hai bên kéo dây thít chặt vào cổ, mắt ngầu đỏ lộn tròng, mặt hổ phù, nhiều người không phải căn cao mà lên đai thượng chết ngay trên sập hầu. Hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng chỉ Đức ông đệ tam mới lên đai thượng vì giống gông xiềng khi bị oan, tuy vậy ý nghĩa thực sự của lên đai thượng là khi lên đai thượng mặt của người hầu sẽ thành mặt hổ phù thể hiện sư uy linh, thần oai của Thánh, vì vậy không chỉ đức ông đệ tam mà tứ vị vương tử khi ngự đồng làm việc đều lên đai thượng, xiên lình. Xiên lình là hình thức của Sa man giáo, ở Việt Nam xiên lình tượng trưng cho những hiện tượng siêu nhiên, thần thông của bề trên, một số người cho rằng xiên lình do đâm vào huyệt đạo nên không chảy máu, nhưng sự thực khi hầu là xiên lung tung trên má, miệng, tai, không cứ vào huyệt đạo mà không chảy một giọt máu, tương tự như vậy, việc lấy dấu mặn, sau khi đạp vỡ, lấy mảnh sành rạch lưỡi phun máu vào bùa, nhưng khi thư hương vào chén rượu ngậm vào máu lập tức ngừng chảy

CÁC VỊ THÁNH NHÀ TRẦN GỒM:

1.Vương phụ - vương mẫu (Vương phụ Khải thánh An Sinh, tặng phong Hiển Hoàng Khâm Minh - Đại vương. Vương mẫu An Sinh phu nhân Thiện Đạo Quốc mẫu )

2. Đức đại vương chính cung (Cửu thiên vũ đế Trần Triều hiển thánh Thái Sư Thượng Phụ Quốc Công bình bắc đại nguyên suý Nhân Vũ Hưng Đạo đại vương thượng thượng thượng đẳng thần): Khi ngự đồng ông mặc áo đỏ thêu rồng, hổ phù, ông làm phép sát quỷ trừ tinh, bóng đức ông khá nặng không phải đồng cựu đội lệnh nhà Trần thì không hầu được.

3. Vương phi phu nhân (Vương Phi Thiên Thành công chúa Nguyên Từ Quốc Mẫu ).Bà mất ngày 28/9

4. Thày dạy văn

5. Thày dạy võ

 6. Quan Nam Tào

 7. Quan Bắc Đẩu

 8. Đức thánh Cả (Trần triều thượng tướng. Khai quốc công Hưng Vũ đại vương Trần Quốc Nghiễn,ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, ngài ngự đồng lấy dấu máu làm bùa trừ tà sát quỷ chữa bệnh)

9. Đức phó tằng (Trần triều thượng tướng. Tiết độ sứ Hưng Hiến đại vương Trần Quốc Uất, ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, ngài chuyên bắt tà ma, cắm đất tìm cốt và trị trùng)

10. Đức thánh tam (Trần triều thượng tướng. Khai quốc công Hưng Hiến đại vương, Đệ tam Ông cửa suốt Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm, ngài ngự đồng sát quỷ trừ tà, chữa bệnh)

11. Đức thánh đệ tứ (Trần triều thượng tướng. Khai quốc công Hưng Trí đại vương Trần Quốc Hiện, ngài ngự áo đỏ khăn đỏ, lưng đeo cờ kiếm )

12. Đức tiên cô đệ nhất Quốc Mẫu (Trần triều Vương nữ đệ nhất Quyên Thanh công chúa Trần Thị Trinh, là vợ Vua Trần Nhân Tông, sau này cô theo vua Trần Nhân Tông tu tại Chùa Yên Tử, khi ngự đồng cô mặc áo màu đỏ, đầu đội khăn đóng, dùng khăn đỏ thắt dải buộc lên)

13. Đức tiên cô đệ nhị Đại Hoàng (Trần triều Vương nữ đệ nhị Đại Hoàng công chúa Điện Súy phu nhân Trần Thị Tĩnh, khi ngự đồng cô mặc áo màu vàng, một số nơi hầu cô mặc áo màu xanh, cô làm phép trừ linh tróc tà )

14. Lục Bộ Đức Thánh Ông ( đây là các danh tướng không mang họ Trần nhưng thuộc về công đồng Trần triều, và luôn được phối tự ở các Đền Trần Triều, các hàng lục bộ đều mặc áo đỏ, về bắt tà, đi trên than lửa, lười cày nung nóng) Gồm :

- Điện Tiền Phò Mã Phạm Tướng Quân (Trần Triều vương tế điện suý thượng tướng quân quan nội hầu Phạm sắc phong Chiêu Cảm Hùng Văn đại vương, ngài ngự đồng khăn áo đỏ, ngài về tiễn đàn nhà Trần )

- Tả Yết Kiêu tướng quân ( Tên thật là Phạm Hữu Thế, là tùy tướng của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn, ông có tài bơi lội như loài thủy tộc, Trần Hưng Đạo trọng dụng và đặt tên là Yết Kiêu, ông được vua Trần phong tước Trần triều Hữu tướng đệ nhất bộ đô soái thủy quân tước hầu, lễ hội của ông ngày 15/1)

- Hữu Dã Tượng tướng quân ( ông rất giỏi huấn luyện voi, là tướng giỏi lục quân

- Nghi Xuyên tướng quân - Hùng Thắng tướng quân (Vi Hùng Thắng, được sắc phong tước Quận Công - Huyền Do tướng quân ( Đặng Huyền Quang, tài ba võ nghệ hơn người, được vua Trần thăng tướng quân Thái úy, ông mất ngày 10/10)

15 - Trần triều Vương nữ tôn Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng Hậu (Bà là con gái trưởng của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Là vợ vua Trần Anh Tông. Mẹ đích của vua Trần Minh Tông)

16 - Trần Triều Khống Bắc tướng quân An Nghĩa đại vương ( Nguyễn Chế Nghĩa, ngài văn võ song toàn, đứng đầu ban võ, ngài mất ngày 28/8).

17. Đức Thái Bình công chúa ( Cô là con nuôi của Đức Thánh Trần, có công phục vụ nhà Trần ở vùng Thái Bình, khi ngự đồng cô mặc áo màu xanh

18. Đức Trần Bình Trọng

19. Cô bé cửa suốt (Trần triều Vương ngoại nữ tôn Tịnh Huệ công chúa, là con gái của Phạm Ngũ Lão và là thứ phi của vua Trần Anh Tông, Anh Tông hoàng đế thứ phi. Cô cùng Đức ông Đệ Tam trấn thống lĩnh ba quân thủy binh trấn giữ ngoài Cửa suốt nên gọi là cô bé cửa suốt. Khi ngự đồng cô mặc trang phục màu trắng, múa kiếm và cờ lệnh, ngày tiệc của cô là ngày 2/3 âm lịch)

20. Cậu bé cửa đông ( Hiển thánh vương tôn chủ bộ tướng): Trong hệ thống thờ các vị thánh Trần triều cổ không hề có Cậu bé cửa Đông, khoảng những năm 1990 một số đồng thầy hầu giá cậu bé cửa đông theo lối hầu mới, ghép Tứ phủ với Trần triều trong một buổi ( trước đây Tú phủ và Trần Triều hầu tách các buổi khác nhau), 1 số tài liệu nói cậu là Thánh cậu trấn giữ Cửa đông, 1 số tài liệu nói Cậu là Cậu bé Quận bản Đền trong Đền cửa ông được Đức ông Đệ Tam trao quyền trấn giữ Cửa Đông, cậu được thờ ở 1 ngôi đền Mẫu gần đền cửa ông. 1 số sách cho là cậu là cháu trai của Hưng Đạo Đại Vương, bằng Cô bé Cửa Suốt, tuy vậy tài liệu không nói rõ đó là vị cháu nào của Hưng Đạo Đại Vương.Có giả thiết cho rằng cậu là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản ( là cháu nội vua Trần Thái Tông). Khi ngự đồng cậu mặc áo vàng hoặc trắng, đầu vấn khăn ngang, múa cờ và kiếm

- Ngoài ra còn các vị tướng khác như Trần Sầm, Đỗ Hựu, Đỗ Vỹ, Đỗ Hưng, Nguyễn An, Trần Bách, Đoàn Thại, Nông Thị Tâm, Lâm Văn Cường, Trần Nhật Duật….

 - Cùng chư quan tướng hạ ban Ngũ hổ tướng quân, gồm

Đông phương lưu diện Đại tướng thanh hổ đại thần

Nam phương lưu chỉ Đại tướng xích hổ đại thần

Tây phương lưu tất Đại tướng bạch hổ đại thần

Bắc phương lưu thị Đại tướng khắc hổ đại thần

Trung phương lưu phòng Đại tướng hoàng hổ đại thần

Ngài ngự đồng hiến hương, hiến tửu, hiến đĩa sành, đập đĩa, gầm rú, khám sét bản đền từ trong ra ngoài, thường được hầu bắt tà và tạ bản đền đóng cửa phong ấn

Thanh Lam

Năng Lực Thần Thông !!?


Ai cũng biết rằng có thế giới vô hình tồn tại ( thế giới của vong linh và những thế lực siêu nhiên khác) song song với thế giới phàm trần, nhưng không mấy người hiểu rõ về nó. Nay tôi nêu một số những khả năng của vong linh vốn tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của chúng ta.

Con người một khi từ giã cõi trần, vong linh thoát ra khỏi cơ thể liền bước ngay vào thế giới Thần Thông. Có rất nhiều thế giới thần thông ( hoặc cảnh giới thần thông) mỗi thế giới thần thông đó nằm trong một bối cảnh đặc biệt, không gian đặc biệt và lại gián tiếp liên hệ với cảnh giới thần thông cao hơn nhờ năng lực thần thông của các vong linh.

Cảnh giới thần thông cao nhất là Cảnh giới thần thông Thái Cực

Cảnh giới thần thông thấp nhất là Cảnh giới thần thông của vong linh nơi địa phủ.

Lẽ mặc định là khi người ta chết đi, vong linh bước vào một thế giới gọi là thế giới thần thông. Ở đó bất cứ vong linh nào dù là còn nhỏ tuổi hay tuổi tác đã cao đều có thần thông. Cho nên ta thấy có những hài nhi mới 4 tháng tuổi bị mẹ bỏ rơi rồi chết, khi đi gọi hồn nó vẫn nói chuyện được bình thường.Hoặc có người rất già yếu khi chết đi , người nhà gọi hồn vẫn thấy cụ lên nói chuyện tỉnh táo minh mẫn, biết hết các việc lớn nhỏ xảy ra trong gia đình.

Vậy vong linh có những năng lực thần thông ra làm sao?

Phần lớn vong linh các năng lực thần thông như sau :

1. Soi Âm Dương: Là việc vong linh biết rõ về quá khứ, hiện tại, tương lai của người thân trên cõi trần. Biết rõ về quá khứ, hiện tại của vong linh nơi cõi vô hình thần thông.

2. Di hình hoán ảnh: Là việc thể hiện sự tồn tại của vong linh bằng muôn hình vạn trạng thông qua các trạng thái : Vật thể hình tròn hoặc vòng tròn phát sáng, hình dài, hình người, hình con vật, cây cối, gió bão, nhiệt độ, không khí và nhiều trạng thái khác

3. Áp vong: Là khả năng mượn Thể Vía của người trần để dẫn nhập, nói chuyện. Thể hiện cảm xúc, tư tưởng, thái độ hoặc hướng dẫn chỉ bảo. Điều này chúng ta đã biết qua việc áp vong gọi hồn đang là một trào lưu hiện nay.

4. Ám Nhập: Là việc dùng năng lực thần thông để điều khiển ý chí và tinh thần của con người một cách gián tiếp mà không nhất thiết phải nhập vào người cõi trần trực tiếp, lâu dài. Người trong trạng thái này giống như bị thôi miên , điều này khiến cho con người bị ám nhập không còn làm chủ được bản thân mình nữa, thần sắc bất thường, ăn nói khác lạ, hành động kỳ quặc. Ta hay gọi đó là hiện tượng bị "Ma làm" hay "Ma nhập".

5. Cướp Hồn: Là việc cướp đoạt, đánh bật Hồn ra khỏi cơ thể người sống để vong dễ dàng mượn xác nhập vào phá phách, giết người, đốt nhà, trộm cướp... Hồn người ta khi đó bị lạc vào thế giới Hỗn nguyên, hư hư thực thực, mờ mờ ảo ảo, không đi ra được, không đi vào được, không biết mình đang lạc vào cái gì, ở đâu?

6. Tác động lực: Là dùng năng lực thần thông tác dộng vào người trần gian vì mục đích chữa bệnh, trừ tà, bảo vệ, giúp tránh tai nạn, giúp cho mạnh khỏe, bình an.

7. Tác động nghiệp: Là dùng thần thông tác động làm thay đổi phần nhiều nghiệp quả của người cõi trần, tạo ra sự thay đổi về công việc, nghề nghiệp và sự may mắn cho công việc, nghề nghiệp của người cõi trần đó. Tác động phần lớn vào việc định nghiệp và nhân quả báo ứng của người phàm trần. 
8. Thay đổi sinh tử : Là dùng thần thông để kéo dài thời gian sống hoặc làm cho dương thọ người trần ngắn lại, vượt qua cả số phận ở một mức độ nào đó được phép quy định bởi Thiên Quy . Thường là những vong đã Thăng Thiên mới có khả năng này.

9. Cầu Tử Tôn: Là dùng thần thông tác động làm tăng hoặc giảm số lượng con cháu ở trên trần gian, hoặc giúp những người hiểm muộn con cái cầu có con, hoặc theo việc mà người dương trần cầu xin thêm con trai, con gái thì ban cho được như ý. Chức năng này thường là do bà Tổ Cô của dòng họ đảm nhiệm. Trong một vài những trường hợp đặc biệt khác thì do vong linh nào đó yêu cầu phải lễ tạ mộ phần, sửa sang xây cất đẹp đẽ thì mới cho có con, hoặc mới cho thêm con trai nối dõi ...vv.

10. Thông thiên đạt địa: Là nhờ có thần thông mà trên biết được lý trời, dưới hiểu được lẽ đất, nắm bắt được huyền cơ của tạo hóa. Cũng nhờ năng lực thần thông này mà biết đến những cảnh giới thần thông cao hơn. Tuy nhiên đây thuộc Thiên Cơ, là điều cấm kỵ tiết lộ về thế giói mà vong linh đang sống và tu tập phát triển thần thông, nên hầu như không có vong linh nào hé lộ bí mật dù là ít hay nhiều.

Phúc Tâm Pháp Sư

BÀI ĐĂNG NỔI BẬT

Để bát đũa dở, rác thức ăn qua đêm cẩn thận chiêu vong

I/ THÓI QUEN ĐỂ BÁT ĐŨA QUA ĐÊM ………………………………………………............ Nhiều gia đình có thói quen để BÁT ĐŨA DỞ của bữa tối - đến sáng hôm...

BÀI ĐĂNG PHỔ BIẾN NHẤT